Màu
tím hoa sim
là một trong những bài thơ tiếng Việt rất nổi tiếng,
đã có bốn nhạc sĩ (Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy
Khánh) phổ
thành những bản nhạc rất thịnh hành. Năm 2004, công
ty Vitek làm một cú PR đẹp mắt khi họ mua
bản quyền từ tác giả Hữu Loan với giá 100 triệu đồng.
Tuy bài thơ nổi tiếng như vậy, nhưng theo tôi, nó
đã bị mọi người... hiểu sai!
Trước hết xin nói sơ qua về bối cảnh của
bài thơ, theo lời chính
tác giả đã thuật lại. Chàng thanh niên
Hữu Loan và cô bé Ninh quen nhau lúc Ninh
mới tám tuổi, khi chàng đang làm việc xa
nhà và được cha mẹ Ninh mướn kèm học cho anh
cô bé. Ninh rất thân ông thầy giáo trẻ
tuổi. Một trong những kỷ niệm đẹp là khi hai người đi chơi
trên đồi, cô bé chạy tung tăng hái sim cho
thầy ăn. Một năm sau, Hữu Loan bỏ đi gia nhập kháng chiến.
Chín năm sau chàng về thăm, cô bé đã
thành thiếu nữ, tình anh em hay thầy trò biến
thành tình yêu. Sau khi cưới, Hữu Loan phải trở lại
đơn vị. Ba tháng sau thì được tin vợ chết.
Xin trở lại với bài thơ.
1. Phân đoạn khúc đầu
Hầu hết các bản được phổ biến thường gom ba
câu đầu thành một đoạn như sau:
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi
tóc nàng xanh xanh
Câu cuối nhiều khi viết là “Khi tóc
nàng còn xanh”. Nhạc sĩ Phạm
Duy khi phổ nhạc thành bài “Áo Anh Sứt Chỉ Đường
Tà” cũng gom như vậy sau khi đổi lời đôi chút:
Nàng có ba người anh đi bộ đội
lâu rồi
Nàng có đôi người em có em
chưa biết nói
Tóc
nàng hãy còn xanh, tóc nàng
hãy còn xanh
Phân đoạn như vậy hàm ý rằng khi
chết, nàng hãy còn trẻ (tóc xanh). Đoạn sau
nói về tình yêu và đám cưới của hai
người:
Tôi người Vệ quốc quân xa gia
đình
Yêu nàng như tình yêu em
gái
Ngày
hợp hôn nàng không đòi may áo mới...
Tuy nhiên, phân đoạn như vậy làm
bài thơ trở thành mâu thuẫn: tại sao chỉ coi
cô gái là em gái mà tác giả
lại lấy làm vợ? Chẳng lẽ nhà thơ “ế vợ” tới mức đó
sao? Nên nhớ Hữu Loan lúc trẻ là một người đẹp
trai, học giỏi, dáng dấp hào hùng (theo lời kể của
Phạm Duy và của chính Hữu Loan).
Thực ra, bài thơ không chấm phẩy,
không phân đoạn nên người đọc phải phân đoạn
lấy. Theo tôi, những câu đầu cần phải chia làm ba
đoạn, hoặc ba ý, như sau:
(1)
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
(2)
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em
gái
(3)
Ngày hợp hôn nàng không
đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất
hành quân
Nàng
cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Đoạn 1 nói về thời điểm “hiện tại”, khi
tác giả nghe tin vợ chết. Lúc này, nàng
đang có ba anh lớn đi lính và một đàn em
nhỏ. Đoạn 2 kể lại thời xưa (trước đó chừng 9 năm, theo lời tự
thuật của tác giả), khi cô gái còn nhỏ (8
tuổi theo lời tự thuật, “tóc
nàng còn xanh xanh”) nhưng tác giả
đã trưởng thành nên chỉ coi cô bé như
một người em gái. Đoạn 3 trở lại dĩ vãng gần, tức
là ngày cưới. Vì chín câu thơ trải ba
thời điểm khác nhau, nên nếu không phân biệt
rõ thì dễ hiểu sai.
Phải ghép câu “Khi tóc nàng xanh xanh”
với hai câu sau thì ta mới hiểu rằng khi nàng
còn nhỏ, tác giả đã lớn và đi lính
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi
người Vệ quốc quân xa gia đình
cho nên chàng mới
Yêu nàng như tình yêu em
gái
Chữ “tóc xanh xanh”, do đó, phải hiểu
là nói về một đứa trẻ (theo tự thuật là 8 tuổi),
tác giả chưa được phép yêu.
Để cho thật rõ, xin tạm dịch phần đầu bài
thơ ra tiếng Anh, với chấm phẩy, như sau:
She has (1) three elder brothers fighting in the
Resistance (2)
And younger siblings, one still a babbling toddler.
Once when she was but a child
And I a Resistance soldier (3) far away from home
I used to love her like a little sister.
For our wedding she didn’t ask for a new dress
I was in uniform, boots stained with the mud of campaigns
She
smiled prettily next to her unorthodox husband
(1)
Tôi đã dùng “she has” thay vì “she had” để
nhấn mạnh sự khác biệt thời điểm.
(2) (3)
Dịch sát chữ “đi bộ đội” thành “in the army” thì
không sai, nhưng chưa đủ. Ta phải nghĩ đến ngữ cảnh và
tình cảm sau chữ “đi bộ đội”. Ở thời điểm kháng chiến
chống Pháp, dưới mắt một chiến sĩ như Hữu Loan, “đi bộ đội”
là nói về những thanh niên yêu nước,
không thích chiến tranh, nhưng sẵn lòng hy sinh để
giải phóng đất nước. Còn trong tiếng Anh, nếu chỉ
nói “She has three older brothers in the army” thì người
ta có thể nghĩ về những gia đình binh nghiệp, cả
nhà thích theo đuổi nghề binh tướng, kiểu như họ McArthur
hay McCain ở Mỹ. Vì vậy, “đi bộ đội” nên dịch là
“fighting in the Resistance”. Cũng vậy, “người Vệ quốc quân” xin
dịch là “Resistance soldier”. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng dùng
chữ “chiến binh đi kháng chiến” để thay cho chữ “Vệ quốc
quân”, lúc ấy (thời chiến tranh Quốc Cộng) bị cấm kỵ ở
miền Nam.
2. Ý nghĩa hai câu đầu
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những
em nàng có em chưa biết nói
Hai câu này tả anh em của nàng,
nhưng tả để làm gì? Theo tôi, tác giả chủ
ý nói về những cảm giác đau xót của
tác giả khi nghe đến cái chết của cô gái.
Tại sao một gia đình hy sinh nhiều cho đất nước như vậy (ba
người anh đi bộ đội) mà phải chịu thảm kịch này? Tại sao
lũ em nhỏ ngây thơ phải mất chị? Tài tình là
không hề nói đến chữ “chết” hay “đau xót”,
mà hai câu này toát ra sự xót xa
cùng cực.
Hiểu như vậy, ta càng thấy là ý
“tóc nàng còn xanh” không thể thuộc về đoạn
này. Vì cái ý “chết khi còn trẻ”,
tuy cũng buồn, nhưng quá sáo mòn, một thi sĩ
tài như Hữu Loan không thể dùng. Hơn nữa, nên
nhớ đây là thời chiến, bao nhiêu trai trẻ đang hy
sinh ngoài trận địa, sự chết trẻ không có gì
đặc biệt.
3. Tại sao “Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy
búi”?
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy
bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây
quanh
Tóc
nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Đây là lần thứ hai mái tóc
xanh hiện ra trong bài thơ. Trong thơ văn Việt Nam, mái
tóc xanh tượng trưng cho tuổi trẻ, nhưng thế nào
là trẻ? 10, 20, 30 tuổi? Vì sự mập mờ đó nên
hầu hết độc giả đều hiểu rằng tóc xanh nói về người thiếu
phụ chết trẻ, có lẽ chừng 20 tuổi. Tuy nhiên, theo
ý đoạn trước (khi tóc nàng còn xanh
và tôi đã là lính, tôi
yêu nàng như em gái) cũng như lời tự thuật của
tác giả, thì ta hiểu rằng “tóc xanh” trong
bài này nói về cô bé tám tuổi.
Có như vậy thì mới không ngạc nhiên vì
mái tóc xanh này “ngắn chưa
đầy búi” – đó chính là mái
tóc của một cô bé, chứ chẳng lẽ đến tuổi lấy chồng
rồi mà tóc còn ngắn như vậy (ngày xưa
các cô thiếu nữ chưa có mốt cắt tóc
“tomboy”, tóc garcon, mà luôn luôn phải để
dài để búi hay quấn). Tóc xanh ở đây được
dùng như đồng nghĩa của “mái đầu xanh”, chỉ trẻ con.
Vậy ba câu trên nói về khi tác
giả ngồi trước mộ vợ, nghĩ tới những hình ảnh, kỷ niệm thời xưa,
trong đó có hình ảnh cô bé tóc
ngắn chạy tung tăng trên đồi sim.
Về trang nhạc Phạm Quang
Tuấn
_______________
PHỤ LỤC 1
Lời tự thuật của
nhà thơ Hữu Loan
Tôi sinh ra trong một gia đình
nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến
trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ
bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là
tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên
trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh
Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi –
Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng
con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên
tôi không có ý định dấn thân vào
chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời
Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó
rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời
còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong
đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn
Xuấn , Đỗ Thiện và ...tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây
trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh
Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà
nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú
ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật
của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà
là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh
nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc
hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ
có một cửa hàng bán vải và sách
báo, tôi thường ghé lại xem và mua
sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền
lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi
chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên
tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa
con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước
ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!”
Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt
nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen
láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã
hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi
suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết.
Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra
nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong
ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu
hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng
thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm
sóc tôi hằng ngày một cách kín
đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi
ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc
thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi
trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy
áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra
giếng giặt .....
Có lần tôi kể chuyện ”
bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh
nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt
một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học
hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào
phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã
nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là
tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe,
rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một
bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng.
Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu
rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm
dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không
chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên
tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ
đưa em lên núi chơi .....
Xe kéo chừng một giờ mới tới được
chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi
theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo
tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một
hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn
tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời,
không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em
hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim
không ?
- Tôi nhìn xuống sườn đồi:
tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi,
còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi
trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi
bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen
láy chín mọng.
- Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa
lên miệng trầm trồ:
-Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra
trong một gia đình nông dân, quả sim đối với
tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa
bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi
ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em
cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng
đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một
màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp
những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ,
tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn
tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ
đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê,
nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé
và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc
lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi
đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên
đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi
không còn nhìn thấy em nữa...
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh
thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em
vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn
bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều
chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn
trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ...
Chín năm sau, tôi trở lại
nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu
làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không
nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây
không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.
Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái
xinh đẹp....
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo
sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một
chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp
hôn của chúng tôi thành công là
do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó
chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may
áo cưới thì em gạt đi, không đòi may
áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ”
yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm
và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi
cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên
em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám
cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh
Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ
có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng
khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao
giờ hết!
Hai tuần phép của tôi
trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường
hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ
bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em
vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã
đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé
Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của
tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như
chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man
mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn.
Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được
tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm
đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm
1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn
(thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm
áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết
đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó,
cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi
tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy,
gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau
trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh
ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái
xác không hồn....Dường như càng kềm nén
thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó
có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự
gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế,
cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng
tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi
ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút
ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu
những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có
ba người anh đi bộ đội... Những em nàng có em chưa biết
nói. Khi tóc nàng đang xanh...” Tôi về
không gặp nàng...
Về viếng mộ nàng, tôi
dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm
bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy
để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này
đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt
những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu
Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi
là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại
đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên
Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của
tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh
Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu
tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới
chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim
tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :
“Chiều hành quân, qua những đồi sim... Những đồi sim,
những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều
không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều
hoang biền biệt...Và chiều hoang tím có chiều
hoang biết...Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi
chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ
giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng
vì tính tôi” hay cãi, thích chống
đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của
tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều,
không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc
kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi
quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ
quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956,
khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất
hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính
sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan
tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái
này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn.
Làm thơ thì phải có cái tâm thật
thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì
sống mãi. Làm thơ mà không có
tình, có tâm thì chả ra gì!
Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi
đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi
khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm
có của mình. Lúc đó tôi khóc
như vậy họ cho là khóc cái tình cảm
riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra
mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ
tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau
xót, tôi làm bài thơ ấy tôi
khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động.
Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người,
tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm
thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà
tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956,
tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ
không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi
không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt
được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa,
đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi,
đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng
bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước,
có hai cái càng ở phía sau để đủn hay
kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi
phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ
gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo
dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an
theo dõi, cho người hại tôi... Nhưng lúc nào
cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ
là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi!
Lần đó tên công an mật nói thật với tôi
là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh
ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của
tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó
ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết
tôi.?Ngoài Yên Mô, tôi cũng có
một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau
năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá,
tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện
cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với
một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận
bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ
có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn
nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm
1954, 1955.? ?Lúc đó tôi còn là
chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận
mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có
tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản
quá, không còn hăng hái nữa. Thú
thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng.
Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa,
cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia
đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư
điền.? ?Trước đây, ông địa chủ đó giàu
lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy
bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông
thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng
quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng
tuyên huấn và chính trị viên của tiểu
đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm
lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư
đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông
đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay
phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi
chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ
cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu
đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị
xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha
chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi
nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn
nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai
được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta
làm công. Thời đó, cán bộ cấm
đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ
làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình
ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về
xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao
vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn
chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô
bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp
bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai
Anh Tuấn.? ?Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta
áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang
lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót,
nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi
đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá
xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi
thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố
cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và
nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi
mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc
miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và
không biết ngày mai còn sống hay bị chết
đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem
cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy
cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm.
Quê tôi nghèo, lúc đó tôi
còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng
cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no.... Cho
đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6
trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong
mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường,
chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào
đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài
cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu,
lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà
chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi
yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia
nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập
làm gì. Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ”
sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn
quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi
lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn
nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để
đòi tự do sáng tác, tự do báo chí –
xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời,
cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản
quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với
giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình
thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi.
Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10
đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng,
phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích
một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu
Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác
xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng
tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để
bán.
© Hữu Loan
____________
PHỤ LỤC 2
Nguyên bản
Màu tím hoa sim
Do luật sư Bạch Thanh Bình
chép cho công ty Vitek (2004). Tôi để cách
ngắt câu nhưng xóa bỏ cách phân đoạn
và những dấu chấm phẩy của người ghi.
Màu
tím hoa sim
Hữu Loan
Nàng có ba
người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết
nói
Khi tóc nàng
xanh xanh
Tôi người vệ quốc
quân
xa gia đình
Yêu nàng như
tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không
đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân
nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất
hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc
đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình
không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều
quê
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu
phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi
bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa
ngày cưới
thành bình
hương
tàn lạnh vây
quanh
Tóc nàng xanh
xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây
phút cuối
không được nghe nhau
nói
không được
trông nhau một lần
Ngày xưa nàng
yêu hoa sim tím
áo nàng
màu tím hoa sim
Ngày xưa
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho
chồng tấm áo
ngày xưa
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên
chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn
rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng
nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân
mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim
dài trong chiều không hết
Màu tím hoa
sim
tím chiều hoang biền
biệt.
Có ai ví như
từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường
tà
Vợ anh chưa có mẹ
già chưa khâu
Ai hỏi vô tình
hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím
có chiều hoang biết
Chiều hoang tím
tím thêm màu da diết.
Nhìn áo
rách vai
Tôi hát trong
màu hoa
áo anh sứt chỉ đường
tà
Vợ anh mất sớm, mẹ
già chưa khâu
Màu tím hoa
sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi
lệ ứa
Ráng vàng ma
và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo
bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh
vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về
đâu
Tôi với vọng về
đâu
Áo anh nát
chỉ dù lâu